Tàng Kinh Các

Các ý kiến mới nhất

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Chào mừng quý vị đến với website của Ngô Dương Khôi

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    KINH THIEN DAO VA THE DAO

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Lê Văn Do
    Ngày gửi: 09h:52' 01-07-2015
    Dung lượng: 412.5 KB
    Số lượt tải: 3
    Số lượt thích: 0 người
    Tựa
    Từ khi mở Đạo, Chí-Tôn duy giáng cơ truyền cho Phật-Giáo, Minh-Sư, Minh-Đường, Minh-Lý dạy dâng kinh cho Đại-Đao Tam-Kỳ Phổ-Độ, song kinh Tận-Độ vong linh chưa hề giáng cơ cho nơi nào tất cả.
    Đức Quyền Giáo-Tông (khi còn tại thế) và Đức Hộ-Pháp, trót mười năm trường, nghĩa là từ ngày mở Đạo, đã nhiều phen dâng sớ cho Đại Từ-Phụ và các Đấng Thiêng-Liêng đặng xin kinh Tận-Độ, nhưng mà Chí-Tôn cùng chư Thần, Thánh, Tiên, Phật vẫn chưa định ban ân cho toàn sanh chúng.
    Mãi đến ngày 23 tháng 7 tới mùng 4 tháng 8 năm Ất-Hợi (DL, 21 đến 31 - 8 - 1935) mới giáng cho Tân-Kinh. Ấy là một giọt nước Cam-Lộ của Đức Từ-Bi rưới chan đặng gội-nhuần cho các đẳng linh-hồn của toàn Thế-Giới.
    Chúng ta thầm xét thì đủ hiểu rằng: Đã trải qua mười năm Chí-Tôn mới mở cơ tận độ. Cơ tận độ nhơn sanh duy kể từ ngày ban Tân-Kinh nầy mà thôi.
    Thương thay cho những kẻ vô phần chịu phận thiệt thòi qui liễu trước ngày Tân-Kinh chuyển Pháp. Ấy cũng là quả kiếp của nhơn sanh do Thiên-Thơ tiền định. Nếu chúng ta thương tưởng thì duy có một phương độ-rỗi là trì tụng Di-Lặc Chơn-Kinh hầu các đẳng linh-hồn đặng siêu-thăng Tịnh-độ.
    Ấy vậy, bổn kinh nầy nguyên của chư Phật, chư Tiên đã giáng-cơ truyền thế trong kỳ Trung-Ngươn Ất-Hợi.
    Khi tụng phải thành tâm và phải để nơi tinh khiết.
    Hội-Thánh kính cáo
    
    Tiểu-Dẫn
    * * * * *

    Cách Thờ-Phượng và Cúng-Kiếng
    Lập vị Thượng-Đế thì phải lựa nơi nào cho tinh-khiết, tốt hơn hết là giữa nhà, lập tran thờ cho cao và treo màn cho khuất chỗ thờ phượng.
                  1              
      3           2           4  
          5   6   7   8   9      
      10           11           12  

    1 - Thánh Tượng Thiên-nhãn 2 - Đèn Thái-Cực 3 - Trái cây 4 - Bông 5 - Nước trà (để bên hữu ấy là Âm) 6 - 7 và 8 - Ba ly rượu 9 - Nước trắng (để bên tả ấy là Dương) 10 - và 12 - Hai cây đèn 11 - Lư hương.
    Bông chỉ về Tinh, rượu chỉ về Khí, trà chỉ về Thần. Tinh, Khí, Thần, là Tam-bửu của các Đấng Thần, Thánh, Tiên, Phật. Thời Tý, Ngọ cúng rượu. Thời Mẹo, Dậu cúng nước Âm Dương. Khi cúng Thầy phải đốt cho đủ 5 cây hương cắm hàng trong 3 cây gọi là: Án Tam-Tài, thêm hàng ngoài hai cây nữa gọi là: Tượng Ngũ-Khí.

    
    Bàn thờ Hộ-Pháp
                  1              
      2                         3
          4   5   6   7   8      
      10           9             11
    1 - Tượng thờ viết chữ ``Khí`` 2 - Trái cây 3 - Bông 4 - Nước trà 5 - 6 và 7 - Ba ly rượu 8 - Nước trắng 9 - Lư hương 10 - và 11 - Hai cây đèn
    Bàn thờ Hộ-Pháp duy thờ nơi Thánh-Thất mà thôi. Mỗi khi cúng Tứ Thời thì đốt ba cây hương.
    
    Cách Lạy
    Chấp hai tay lại như dưới đây:
    Tay trái bắt Ấn-Tý (1), rồi nắm lại. Kế đó, bàn tay mặt áp ngoài, rồi ngón cái (tay mặt) xỏ vô giữa ngón cái và ngón trỏ bên tay trái.
    Để hai tay như vậy mà đưa lên trán, xá sâu ba xá rồi quì xuống đưa hai tay lên trán như
     
    Gửi ý kiến